Lịch sử về quá trình điều trị bệnh nhược cơ

Trong lịch sử y học, ai là người đầu tiên phát hiện nhược cơ và mô tả các triệu chứng lâm sàng? Phân loại nhược cơ và dịch tễ của căn bệnh này ra sao? Chúng ta sẽ tìm câu trả lời trong bài viết dưới đây.

Lịch sử về quá trình điều trị bệnh nhược cơ 1
Samme Wilks (1825 – 1911)

Dịch tễ bệnh nhược cơ

Bệnh nhược cơ là gì?

Bệnh nhược cơ là bệnh tự miễn liên quan đến quá trình dẫn truyền thần kinh cơ. Qúa trình nãy bị rối loạn do sự thương tổn của thụ cảm thể Acetylcholin. Triệu chứng chính của bệnh nhược cơ là sự yếu cơ và nhanh mệt khi gắng sức. Triệu chứng yếu cơ này sẽ giảm khi được nghỉ ngơi và khi sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh nhược cơ. Các cơ vận động nhãn cầu (cơ vận nhãn) thường là các cơ bị ảnh hưởng đầu tiên và nhiều nhất, sau đó bệnh tiến triển dần tới giai đoạn sau thì người bệnh sẽ bị nhược gần như toàn bộ các cơ trong cơ thể. Người ta phát hiện ra rằng, các kháng thể tuần hoàn trong cơ thể kháng lại các thụ cảm thể acetylcholin chiếm 80 – 90% các trường hợp, chống lại trữ lượng IgG và yếu tố bổ thể ở màng sau synap thấy trong tất cả các trường hợp.

Dịch tễ bệnh nhược cơ

Bệnh nhược cơ có tỷ lệ mắc mới hàng năm thấp nhất là 2 – 5 người và cao nhất là 10,4 người trên 1 triệu dân. Theo thống kê của các tổ chức Y tế trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh hiện hành dao động từ từ 25 – 125/1 triệu dân.

Nhược cơ có thể mắc ở mọi lứa tuổi nhưng nữ giới hay mắc bệnh vào thập kỷ thứ 3 và nam giới hay mắc vào thập kỷ thứ 6 và 7 của cuộc đời. Tuổi trung bình khởi phát bệnh ở nữ và nam lần lượt là 28 tuổi và 42 tuổi.

Vào năm 1977, tỷ lệ tử vong tính theo độ tuổi là khoảng 1/1 triệu dân. Tuy nhiên ngày nay, cùng với sự phát triển của y học và sự tiên tiến trong các phương pháp điều trị, tỷ lệ này đã giảm dần.

Lịch sử điều trị bệnh nhược cơ

Người đầu tiên mô tả lâm sàng căn bệnh này là bác sĩ Thomas. Năm 1672, ông mô tả trên lâm sàng bệnh nhược cơ với các triệu chứng: Yếu các cơ tiến triển nặng dần trong ngày kèm theo liệt lưỡi tăng dần khi nói to, nói nhiều.

Năm 1877, Samme Wilks cũng mô tả lâm sàng một trường hợp bị ông nghi ngờ là mắc nhược cơ. Nữ bệnh nhân này bị liệt nhãn cầu, đi lại khó khăn và tử vong sau 1 tháng phát bệnh do liệt các cơ hô hấp.

Hai bác sĩ, Erb (1879) và Goldflam (1893) cùng quan sát thấy sự dao động của các triệu chứng bệnh nhược cơ, sự tổn thương chọn lọc các cơ vận nhãn và các dây thần kinh sọ khác

Vào năm 1895, bác sĩ Jolly đã nêu lên 3 quan điểm của mình về bệnh nhược cơ:

  • Thứ nhất: Tác giả đặt tên cho căn bệnh này là nhược cơ nặng giả liệt (myasthenia gravis pseudoparalytica).
  • Thứ hai: Bác sĩ đã chỉ ra sự suy kiệt tăng dần của các cơ khi kích thích chúng liên tục và sự phục hồi của chúng khi được nghỉ ngơi.
  • Thứ ba: Ông cho rằng chỉ có thể điều trị nhược cơ bằng physostigmine.

Năm 1900, Cambel và Bramwel đã truy cứu 60 trường hợp nhược cơ trong y văn và nhận thấy rằng triệu chứng được mô tả nhiều nhất là sự yếu cơ và các triệu chứng này thay đổi từng ngày, từng tuần thậm chí có thể biến mất hàng tháng hoặc hàng năm. Ông và các cộng sự phỏng đoán rằng bệnh được gây nên do một loại độc tố tuần hoàn trong cơ thể người bệnh, nó tác động lên neuron vận động ngoại vi và làm thay đổi hoạt tính của chúng.

Năm 1905, Buzzard trong khi giải phẫu tử thi bệnh nhân nhược cơ để nghiên cứu đã phát hiện ra sự xâm lấn tràn lan của tế bào lympho trong cơ cũng như các cơ quan khác, cùng với đó là sự đa sản lympho của tuyến ức. Ông kết luận rằng cách tốt nhất để tiếp cận bệnh nhược cơ là qua con đường nghiên cứu hệ lympho.

Năm 1901 Laquer và Weigst đã nhận thấy mối liên hệ giữa bệnh nhược cơ và u tuyến ức. Nhưng mãi đến hơn 30 năm sau (năm 1936), hai bác sĩ khác là Blalock và Cowrkers mới chứng minh được rằng phẫu thuật lấy u tuyến ức có tác dụng thuận lợi ở bệnh nhân nhược cơ. Tính đắc dụng của phương pháp này trong điều trị nhược cơ còn tiếp tục được bác sĩ Blalock thông báo trong các y văn năm 1944.

Lịch sử điều trị bệnh nhược cơ 1

Vị trí của tuyến ức trong cơ thể

Vào những năm 1960, người ta đã thấy rằng khoảng 15% người mắc nhược cơ có u tuyến ức và 65% có đa sản tuyến ức. Phương pháp phẫu thuật tuyến ức đã sớm được các bác sĩ công nhận là một trong nhưng phương pháp điều trị nhược cơ, thế nhưng những chỉ định sao cho đạt được tác dụng lâu dài và hiệu quả nhất thì vẫn luôn là vấn đề được bàn cãi.

Năm 1934, Walker nhận thấy rằng các triệu chứng của bệnh nhược cơ và bệnh ngộ độc cura có nhiều điểm giống nhau, vì vậy ông phỏng đoán rằng có thể dùng physostigmine để điều trị. Một điều lý thú là cũng vào năm đó, hai bác sĩ Dale và Feldberg cũng đã quan sát thấy các thụ thể Acetylcholin được giải phóng vào màng sau synap thần kinh – cơ.

Về các loại thuốc điều trị nhược cơ, từ năm 1935 Neostrigmine đã được dùng theo đường uống để điều trị nhược cơ. Các thuốc kháng men, rydostrigmine và ambenonium được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bệnh vào hai thập kỷ sau đó.

Vào những năm 50, việc sử dụng Corticoid trong điều trị nhược cơ không đạt được kết quả mong muốn. Phải tới năm 1970 hiệu quả của Prednisone khi dùng cách nhật mới được công nhận.

Năm 1968, ức chế miễn dịch mới được sử dụng trong điều trị nhược cơ

Từ 1976, hai phương pháp là thẩm phân máu (plasmapheresis) và dùng immunglobuline đường tĩnh mạch được chỉ định dùng cho các bệnh nhân nhược cơ kháng các phương pháp điều trị khác.

Tại Việt Nam, vào năm 1995, bằng nhiều thử nghiệm tại Bệnh viện Quân y 103, Đại tá, GS.BS Phan Chúc Lâm đã nhận thấy rằng dịch chiết là cây Chay Bắc Bộ có tác dụng rất lớn trong việc giúp ổn định các triệu chứng nhược cơ. Cuộc thử nghiệm thu được rất nhiều kết quả tốt, 90% bệnh nhân sau khi sử dụng dịch chiết nước từ lá Chay bắc bộ đã giảm và hết các triệu chứng lâm sàng, đặc biệt thuốc làm giảm nhanh triệu chứng sụp mí mắt ở bệnh nhân, đây là triệu chứng điển hình và thường gặp nhất ở bệnh nhân nhược cơ.

Xem thêm: Cây Chay chữa bệnh nhược cơ

Cho đến ngày nay, điều trị khỏi hoàn toàn bệnh nhược cơ vẫn là một thách thức lớn với các bác sĩ. Hi vọng rằng trong thời gian tới, với sự phát triển của công nghệ, của Y học, căn bệnh này sẽ tìm ra được phương pháp mới trong việc điều trị dứt điểm bệnh. Nếu muốn tìm hiểu rõ hơn về căn bệnh này, bạn có thể đọc thêm các bài viết trong website hoặc liên lạc với chúng tôi để được tư vấn nhé!

Lohha Tráng Kiện sản phẩm dành riêng cho chứng Nhược Cơ


Viên nén Lohha Tráng Kiện với thành phần Cao Lá Chay kết hợp cùng một số thảo dược khác có tác dụng giúp tăng trương lực cơ, hạn chế biểu hiện sụp mí mắt, khó nói, khó nuốt, cử động chân tay yếu do nhược cơ sinh ra. Ưu điểm lớn nhất của Lohha Tráng Kiện không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài từ đó có thể dùng phối hợp với thuốc tây để ngăn ngừa lệ thuộc và giảm tác dụng phụ của thuốc .
- Hướng dẫn mua Lohha Tráng Kiện: Xem tại đây
Có thể bạn quan tâm:

Ý kiến của bạn

Lohha Tráng Kiện